Rừng Tây Nguyên, voi khóc…

Rừng Tây Nguyên – không gian sinh tồn của loài voi – đã và đang bị con người tàn phá nghiêm trọng, khiến những đàn voi rừng phải du cư tứ xứ và đàn voi nhà mai một dần.

Làng voi Nhơn Hoà từng một thời nổi tiếng ở Tây Nguyên, giờ đã thành hoài niệm, “chú voi con ở bản Đôn…” giờ cũng chỉ nghe trong lời một bài hát, những hoạt động lễ hội liên quan đến voi cũng mất dần. Những chú voi còn lại chỉ “nghẹn ngào” rơi nước mắt giữa đại ngàn bao la…

lễ hội đua voi 2

Hoài niệm làng voi Nhơn Hoà

Đã có một thời, cụm làng voi Nhơn Hoà bao gồm: Plei Lao, Plei Kia, Plei Kly Ful, Plei Thơ Ga, thuộc xã Nhơn Hoà (huyện Chư Sê, Gia Lai) được ví như chiếc nôi của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng ở vùng bắc Tây Nguyên. Nhưng bây giờ chỉ còn là hoài niệm. Ông Nay Tơr (83 tuổi) ở Nhơn Hoà, buồn buồn: “Cách đây gần thế kỷ, làng voi Nhơn Hoà được coi là một biểu hiện đặc trưng, là chấm son trong đại gia đình voi ở Tây Nguyên. Hồi mình còn lẫm chẫm đi đã thấy nhiều voi lắm rồi. Nhà ai có voi mới sang, mới được làng tôn trọng… Thời Pháp thuộc, cha vợ mình là Kpă Djhông ngày ngày cưỡi voi đi dạy trong cái nhìn ngưỡng mộ của người làng và sự thán phục của các quan thầy người Pháp…”.

Ánh mắt già làng Kpăh Kleng (tuổi 80) ở làng Plei Lao – có cha là người Lào, mẹ là người Jrai – sáng lên khi chúng tôi nói chuyện voi. Ký ức ngày trước ùa về khiến ông trở thành người độc thoại của cuộc trò chuyện. Già Kleng nói rằng, thuở lên năm, ông đã tập tễnh bước vào nghề săn bắt voi rừng. Tuổi 18 -20 ông to khoẻ, nhanh nhẹn và trở thành chàng thợ săn voi dũng mãnh. Ông không nhớ vùng Nhơn Hoà có tất cả bao nhiêu con voi “nó nhiều lắm, có lúc bằng cả đàn bò bây giờ…”. Riêng nhà ông ngày đó được xem là “nhà sang” vì có đến ba con voi là Păm, Keng, Khăm Plang. Cả 3 con voi này đều bị chết bởi bom đạn Mỹ trong chiến tranh.

Những ngày sau hoà bình, Kpăh Kleng hùn vốn với người làng sang Đắc Lắc mua voi và đặt tên là Thoong Răng (một hoài niệm về tổ tiên người Lào) về nuôi. Bọn xấu lợi dụng sự sơ hở của gia đình ông đã hai lần cưa trộm ngà. “Tiếc là thằng Anhót con trai mình đã đưa nó sang Đắc Lắc bán lại cho người ta mất rồi. Voi hết thì nghề thuần dưỡng cũng quên mất thôi”- giọng già Kpă Kleng trầm xuống.

Năm 2000, một tin vui đến, thắp lên hy vọng cho đàn voi nhà. Công ty du lịch Gia Lai phối hợp với những chủ voi ở Nhơn Hoà đưa gần 20 con voi vào sử dụng trong các tour du lịch sinh thái. Nhưng rồi du lịch vắng khách, sự kết hợp đó cũng lụi dần. Voi lần lượt bị bán sang vùng khác. Trong những nỗ lực cuối cùng, công ty này đã thương lượng mua lại 3 con voi, mỗi con có giá 40 – 50 triệu đồng khi chúng sắp có chủ khác. Sáu nài voi được trả 3 triệu đồng/tháng để giữ voi và phục vụ khi có khách tham quan. Cả đàn voi nhà gần 50 con từng là niềm kiêu hãnh của người dân Nhơn Hoà nay chỉ còn lại là con số 0 (không). Con voi chỉ còn là một hoài niệm buồn trong từng câu chuyện, qua các bưu ảnh ố màu. Huyền thoại về làng voi duy nhất ở vùng bắc Tây Nguyên này gần như biến mất.

Voi Đắc Lắc và tiếng tù và báo hiệu…

Cũng như Gia Lai, theo Trung tâm Bảo tồn voi tỉnh Đắc Lắc, trong những năm qua, số lượng voi hoang dã lẫn voi nhà của tỉnh giảm rất nhanh. Đối với voi hoang dã, năm 1980 có trên 550 con thì hiện nay toàn tỉnh chỉ còn khoảng 5 đàn, với số lượng 60-70 cá thể. Từ năm 2009 đến nay đã có 17 con voi rừng bị chết, trong đó có nhiều cá thể voi bị săn bắn trái phép. Nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống của voi hoang dã bị thu hẹp, chia cắt. Bên cạnh đó, nạn săn bắn trái phép để lấy các sản phẩm có giá trị như ngà, lông, da… cũng đang làm cho số lượng voi hoang dã giảm đi nhanh chóng.

Đàn voi nhà ở Đắc Lắc cũng đang sụt giảm nghiêm trọng. So với năm 1980 có 502 con, thì hiện nay chỉ còn 49 con. Như vậy, trong vòng 32 năm, số lượng voi nhà đã tụt giảm tới hơn 90%. Tính riêng từ năm 2007 đến nay, đã có 21 voi nhà bị chết do bị giết hại; thiếu thức ăn; kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng còn lạc hậu; làm du lịch quá mức dẫn đến kiệt sức… Dự báo, khoảng 20 – 30 năm nữa voi không sinh sản thì đàn voi nhà ởĐắc Lắc sẽ biến mất. Với tốc độ suy giảm như hiện nay, nhiều người đã đặt câu hỏi: Liệu mai này, Đắc Lắc có còn voi?

Gặp chúng tôi tại Buôn Đôn, ông Ama Khuông đã ngoài 90 tuổi – người rất am hiểu về đời sống của voi – nói: “Con voi, một đặc ân của tự nhiên ban phát cho núi rừng, cho con người Tây Nguyên vì nhiều lý do khác nhau đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đây là niềm đau và nỗi buồn lớn nhất của chúng tôi”. Còn ông Ama Thu – già làng ở Bản Đôn – đã gần 90 tuổi tiếc nuối: “Voi ngày ấy nhiều vô kể, sống ở rừng, chúng hung dữ và khoẻ lắm. Còn bây giờ…”. Già Ama Thu bỏ lửng câu nói, đứng lên cầm chiếc tù và cũ kỹ làm bằng ngà voi đưa lên miệng thổi một hồi dài – hiệu lệnh của những chuyến săn voi ngày ấy, nghe như tiếng rống lên thống thiết giã từ đồng loại vào giây phút sinh tử cảnh báo đàn voi nên tránh xa lũ thợ săn độc ác, dã man.

Vấn đề là con người và cách hành xử của con người. Thực tế voi chết nhiều là do bị cách ly ra khỏi những nơi thuần dưỡng thích hợp.

Tay-Nguyen-1.1

Voi nhà có tuổi thọ ngắn hơn voi rừng bởi bị tách xa môi trường tự nhiên. Nhưng đó hoàn toàn không phải là nguyên nhân chính dẫn đến điều đau lòng nói trên tại một vùng đất có truyền thống nuôi giữ voi lâu đời như Đắc Lắc – Gia Lai. Vấn đề là con người và cách hành xử của con người.

Thực tế voi chết nhiều là do bị cách ly ra khỏi những nơi thuần dưỡng thích hợp. Chỉ riêng trường hợp voi nhà từ Đắc Lắc bán sang Lâm Đồng, từ năm 1995 đến nay đã lần lượt chết 11 con. Những con voi chết tại các khu du lịch thác Đăm B’Ri (1 con), hồ Tuyền Lâm (8 con) và Nam Qua (2 con) ở tỉnh Lâm Đồng đều vì không chịu được khí hậu lạnh có độ cao chênh lệch với Đắc Lắc hơn 1.000 mét. Ngoài ra còn có các trường hợp bán voi sang biên giới để giết lấy ngà, đem voi đi “triển lãm” nhiều nơi… cũng là nguyên nhân dẫn đến sự suy kiệt nhanh chóng của đàn voi.

Nghẹn ngào và ao ước

Đối với quần thể voi hoang dã, rừng là vấn đề sống còn là duy trì không gian sống của chúng. Thế nhưng, trong những năm qua, hàng chục ngàn hécta rừng ở Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo (Đắc Lắc), Chư Prông (Gia Lai), nơi nhiều voi rừng sinh sống, đã bị khai tử do tình trạng khai thác rừng trái phép, giao đất rừng cho doanh nghiệp để trồng cao su, cà phê…

Từ năm 2005 – 2014, diện tích rừng tự nhiên của các địa phương trên có voi hoang dã sinh sống đã giảm trên 20.000 ha. Không gian sinh tồn của voi đang bị thu hẹp dần và chúng ngày càng trở nên hung dữ hơn. Đây cũng chính là lý do khiến cho xung đột giữa voi và người ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, việc săn bắn trái phép cũng làm giảm đi quần thể voi hoang dã vốn đã ít ỏi. Thế nhưng tới nay, các vụ voi bị chết, bị bắn giết cơ quan chức năng mới chỉ tiến hành các bước điều tra rồi để đấy; vẫn chưa có nhóm thủ phạm nào bị các cơ quan tư pháp truy tố, xét xử công khai dù chỉ để trấn an dư luận xã hội.

Việc nuôi voi ở một số địa phương cũng trái với sự sinh tồn, phát triển của voi, vì chúng bị buộc riêng lẻ vào một sợi xích, dài khoảng 50m và thả trong rừng. Đôi khi đến phiên mình cho ăn nhưng người chủ ham uống rượu là lập tức… quên ngay. Vậy là voi nhịn đói… Vào độ tháng tư, voi động dục. Chúng hẳn bắt được “hương tình” của nhau nhưng đành bất lực bởi những sợi dây xích oan nghiệt. Trong quá trình thực hiện bài viết này, chúng tôi đã nhiều lần sởn da gà khi nghe tiếng voi nhà động dục rống lên hằng đêm vẫn vọng về, dội vào núi rừng thâm u, vào mỗi vách nhà một cách bi thiết, bất lực.

Theo già làng Kpăh Kleng, một người có nhiều kinh nghiệm nuôi và thuần dưỡng voi ở Buôn Đôn, voi là loài khá kín đáo trong chuyện “phòng the”. Nếu không có một sinh cảnh thích hợp và “đức lang quân” vừa ý thì chuyện ấy khó xảy ra. Điều đó giải thích tại sao trong ngần ấy năm, chúng ta chưa ghi nhận một “bé voi” nào chào đời trong điều kiện “nuôi nhốt”. Đã có ý kiến mạnh dạn đề xuất như thụ tinh nhân tạo cho voi; tạo cho voi một không gian để chúng có thể “gần” nhau… Đặc biệt, chính quyền hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc đã nhiều lần tổ chức hội thảo “về voi” và đã xác định những bước đi đầu tiên trong nỗ lực bảo tồn, phát triển voi, nhưng hiện vẫn còn… chờ!

Theo Quang Dũng/ Lao Động