Chuyện người đàn bà ở chợ Bỉm Sơn…

Bỉm Sơn là một xứ rất lạ. Dân cư hàng chục năm qua chẳng tăng nhiều, độ chục vạn người, nhưng thương mại, dịch vụ lại rất phát triển, nhất là chợ búa. Không lẽ nào, cái thị xã bao quanh là núi đá vôi này ở vị trí cửa ngõ của tỉnh Thanh Hóa, có vài nhà máy phun khói xối xả lên nên trời xanh, nên người ta cứ thấy cột khói là tìm tới bán bán, mua mua, như một thói quen…(?)

Nhà máy xi măng – Biểu tượng kinh tế của Thị xã Bỉm Sơn
Nhà máy xi măng – Biểu tượng kinh tế của Thị xã Bỉm Sơn

Người Bỉm Sơn, hay người xứ Thanh, hay người dân miền Bắc, miền Trung từng qua đây, có lẽ không ai không biết tới chợ Bỉm Sơn – cái chợ rộng lớn, đông đúc, và cũng gắn liền với biết bao lùm xùm chuyện đập cũ, xây mới, lợi ích nhóm này nọ… Và có những người hay ghé chợ ăn hàng, họ chẳng lạ gì bà Vừng bán bún. Bà gắn đời mình với cái chợ này, buồn, vui cùng nó từ sớm mùng 2, mùng 4 cho tới chiều 30. Lầm lầm lũi lũi tới tội nghiệp.

Còn tôi, tôi lưu giữ hình ảnh dáng bà tội tình những tinh mơ trên triền đê mù sương.

1. Khi tôi hiểu chút ít về bà, bà đã là bà mẹ đơn thân, như cái đầu tàu than ọp ẹp kéo theo 04 toa không ngừng há miệng.

Xứ Bỉm ngày đó chẳng đô thị hóa triệt để, táo tợn như bây giờ. Vẫn là những đồng trũng ngang ngực người, những con đường lầy lội, nhớp nháp như mặt ruộng. Cánh đồng ấy, con đường ấy hằn dấu chân, thấm nước mắt của người mẹ ấy mỗi sớm, mỗi chiều, mỗi tối. Bà cứ lam lũ, cứ đi, cứ lao vào công việc, bỏ mặc 04 đứa trẻ cho cha mẹ già, cho những người hàng xóm trắc ẩn. Sau này, tôi mới hiểu, bà sẵn sàng vứt bỏ tất cả, lao vào tất cả, để hạnh phúc của đời bà, vốn đã chết, có cơ hội phục sinh.

Mẹ đi chợ – Ảnh intenet
Mẹ đi chợ – Ảnh intenet

Ngày qua ngày, những đồng tiền lẻ lượm nhặt ở chợ chiều được vuốt lại phẳng phiu, dành cho những khoản học Toán, học Văn, kể cả những môn học “quý tộc” của những năm 90 là nhạc, tiếng Anh…, của mấy đứa con. Bà bảo chỉ có học mới bước qua được cánh cổng chợ, thay đổi phận nghèo.

Bà không tin vào phước phần, phước phận của người khác. Trừ mình.

2. 5 năm, rồi 10 năm, 15 năm, những đứa trẻ cứ lớn lên, không như ngọn cỏ gà mọc ở triền đê, như không ít bạn bè của chúng. Đủ lông đủ cánh, chúng nối tiếp nhau ly hương. Vẫn con đường đê nhớp nháp ấy, bà tiễn chúng đi, rồi lầm lũi bước về, trong nước mắt mãn nguyện. Cái hạnh phúc của người đàn bà sống như chưa từng sống, như chẳng còn gì để mất, như bản năng của con gà mái hiền hòa, con trâu già chịu thương chịu khó, là những đứa con phải đi, thoái khỏi cảnh bà.

Cái xứ Bỉm những ngày tháng 6 Hạ về, hay độ Xuân sang, lại là thời khắc sao quá nhiều những ủ ê. Bà, cũng như bao người mẹ khác, ngóng đợi con về, gạt nước mắt tiễn con đi. Sau đó, lại lầm lũi bước vào đêm hôm, sương sớm, như một điệp khúc trầm buồn vô tận…

Mẹ đã già – Ảnh internet
Mẹ đã già – Ảnh internet

Ở quê, ai mà quan tâm tới những chuyện như “Những giai đoạn của một đời người”, “Những biến đổi tâm sinh lý phụ nữ”… nặng tính khoa học, thứ chỉ hợp với phương Tây, thành thị. Cũng chẳng ai để ý tới việc có người đàn bà thành đi biển một mình, khi mới ngoài 20. Bước tiếp suốt phần đời mình còn lại, giữa 04 bức tường vôi ngả màu, vò võ đơn lạnh gối chăn…

Các con bảo bà lấy chồng. Bà chỉ cười ngượng ngùng. Có lẽ bà cũng muốn. Nhưng có lẽ cũng sợ. Như chim sợ cành cong!? Hay những sợ sệt khác mà chỉ bà, một người đàn bà quê mùa, nặng nợ mới hiểu…

3. Sát cái tuổi lục tuần, bà vẫn đơn chiếc. Có người hỏi “Bao giờ vào ở với thằng A, thằng B”, bà chỉ cười. Ừ thì trên cái dải đất Việt khốn khó này, có người đàn bà nào mà nửa sau cuộc đời rũ bỏ được trách nhiệm, để thư thái với chim chóc, cỏ cây, bạn trà, bạn tửu…

Mẹ đi chợ về – ảnh internet
Mẹ đi chợ về – ảnh internet

Bà ngại nói về gia cảnh những đứa con. Chẳng đói kém, nhưng gánh áo cơm chưa hết kéo ghì. Chẳng bao giờ bà kể “Thằng A, thằng B bạn mày giờ giàu lắm!” Chắc trong mơ hồ, bà hiểu rằng trong cái thời đại tranh sáng tranh tối này, nghèo thì rất dễ, giàu cũng chẳng khó khăn. Nhưng giàu lên, ừ thì rũ bỏ được nỗi đói no, nhưng chắc gì đã thay đổi được phước phần, phước phận!?

Những đứa con của bà vẫn nghèo như bà. Nhưng thật may góc nhìn của chúng đã vượt xa cái cổng chợ mà đời bà cột chặt. Con cháu của bà, không còn phải hãi sợ trong trời giá rét, khi mùa bão lũ ùa qua. Chúng bước vào ngôi trường có con cái của người sang, đi trên con phố có những thứ mà chúng từng chẳng dám nhìn thẳng. Chúng có cả cái nghèo, cái cái ngạo nghễ, dám cười cợt với phận số…

4.  Lâu rồi tôi chưa ghé thăm bà – người đàn bà với gánh hàng bé mọn ở chợ Bỉm Sơn. Nghe bảo bà chẳng còn bán bún nữa. Nhưng bà vẫn bám lấy chợ, vẫn đạp xe đi về trên con đê nhớp nháp, bụi mù, để con bà, cháu bà, được vui, được đi trên những con đường khác. Con đường của chúng, có gập ghềnh, có chông gai, nhưng không còn giọt nước mắt tủi nghẹn rơi tõm vào đêm tối.

Có lần, tôi nói với ai đó, một vị ở Bỉm Sơn, rằng cái khúc đê đau khổ ở cái xứ “đi dễ khó về” ấy vẫn chẳng rõ tên gì. Hay là gọi nó là đường Bà Vừng – người đàn bà ngụ cư quê xứ khác, nhưng là biểu tượng của cam chịu, yêu thương và khát vọng đổi thay, cho một nhóm cộng đồng nhỏ, nghèo khó ở nơi này. Vị ấy nói, phải là bà Trưng, bà Triệu…

Tôi cười: “Nói vậy thôi, tôi để dành cho con đường tôi đang đi!”

*** B.G, Saigon 12/2