Đôi điều về Tết Nguyên đán

Khi những cành mai vừa chớm nhú những nụ, chực chờ bung nở sắc vàng hay những chậu đào hồng ươm cả con ngõ nhỏ, người người cười nói với nhau: “Vậy là Tết về rồi đấy!” Và người ta cùng nhau dọn dẹp, lau chùi bàn ghế, trang hoàng nhà cửa, cắt tóc, sắm sửa quần áo mới, dường như muốn đặt mình vào tư thế tốt nhất để “tống cựu nghênh tân”. Nhân những ngày đầu năm mới, xin mạn phép góp nhặt, gửi đến quí bạn đọc đôi điều về cái Tết mà ta vẫn thường náo nức đợi chờ mỗi độ Xuân về.

Tại sao gọi là Tết Nguyên Đán?

Trước giờ vẫn hay thấy cha, mẹ, ông bà, mấy anh, mấy chị gọi cái Tết đầu năm là Tết Nguyên Đán, nhưng có bao giờ bạn tự hỏi: “Tại sao ông bà ta lại gọi đó là Tết Nguyên Đán mà không phải là gì khác?’

Tết Nguyên Đán

Thực ra, “Tết” là một từ Việt gốc Hán, được gọi chệch từ chữ “tiết” (節) của Hán ngữ. Thời Bắc thuộc, nước ta đã áp dụng lịch của Trung Hoa.Chia 1 năm ra 24 tiết là: Lập Xuân, Vũ thủy, Kim trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn. Từ năm 1991 nước Trung Hoa lại chia năm âm lịch thành 4 tiết chính (nước ta gọi là mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông).
Ứng với tiết xuân có Tết Nguyên Đán (mồng 1 tháng giêng).Ứng với tiết Hạ có tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5) còn gọi là tết diệt sâu bọ, ăn rượu nếp.Ứng với tiết thu có Tết Trung Thu (rằm tháng 8). Ứng với tiết đông có ngày Đông Chí (là ngày chuyển tiếp giữa năm cũ với năm năm mới dương lịch (là ngày 22 tháng 12 dương lịch).
Ảnh Tết Nguyên Đán Nhâm Tuất 1982
Ảnh gợi về cái Tết xưa cũ. Trong ảnh là Tết Nhâm Tuất, năm 1982
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, chữ “tiết” dần dần được Việt Hóa và được gọi là “Tết”. Nguyên Đán (元旦) cũng là từ Việt gốc Hán, chữ “Nguyên” có nghĩ là “đầu tiên, bắt đầu”, chữ “Đán” là “buổi sáng”. Vậy ta có thể hiểu nôm na Tết Nguyên Đán có nghĩa là: Buổi sáng khởi đầu của một năm, bắt đầu của tiết Xuân.

Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (Tết Nguyên đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết (春節), Tân niên (新年) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年).

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam đôi khi không hoàn toàn trùng với Xuân tiết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa khác.

Mâm Ngũ quả

Ta vẫn hay thấy vào những ngày đầu năm, người ta thường trưng trên bàn thờ một mâm trái cây tươi ngon, đủ màu sắc gồm 5 loại trái cây khác nhau. Tùy vào vùng miền, ý thích của chủ nhà mà có 5 loại trái cây này cũng như như cách sắp xếp chúng có chút thay đổi.

Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, quýt, lê-ki-ma, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc. Mâm ngũ quả người miền Nam thường gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, sung, xoài với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài

Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi. Ngũ (五) (năm, là biểu tượng chung của sự sống, Ngũ quả chỉ sự tập trung đầy đủ các loại trái cây trong đất trời dùng thờ cúng. Thêm vào đó cư dân vùng nông nghiệp, Ngũ cốc được coi trọng nhiều hơn Ngũ quả. Trong sách Chiêm thư, người ta thường nhìn Ngũ Quả để dự đoán được/mất của các mùa vụ lương thực trong năm. Lâu dần, sự xác tín biến thành tập tục, “ngũ quả” có thể tượng trưng cho sự cầu thị được mùa của người nông dân.

Nguyên gốc, mâm ngũ quả có các loại trái cây: mận, hạnh, đào, táo và lý (hay điều). Nhưng do điều kiện của các khu vực sinh sống của người Việt có đôi chút khác biệt, cư dân không thể lúc nào cũng kiếm được đủ năm loại trái cây này, dẫn đến cách trình bày mâm ngũ quả cũng có sự khác biệt giữ hai miền. Tùy ý nghĩa của từng thành tố mà mâm ngũ quả nói lên sự mong muốn cho gia đình, dòng họ, từ ông bà, cha mẹ đến con cháu đều được vui hưởng ấm no, hạnh phúc.

Ông Táo về Trời

Tết của người Việt bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo. Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu, những việc mà Ông Táo tai nghe mắt thấy. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp Âm lịch hàng năm. Lễ cúng ngoài hương, nến, hoa quả, vàng mã còn có hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà và ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ), cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng.

Bánh chưng, bánh Dày

Là hai loại bánh có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống Việt Nam còn được sử sách nhắc lại. Bánh chưng và bánh dày có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt và nguồn gốc của nó có thể truy nguyên về truyền thuyết liên quan đến hoàng tử Lang Liêu vào đời vua Hùng thứ 6.

Tết Nguyên Đán

Trong đó vị hoàng tử Lang Liêu đã được báo mộng để làm ra chiếc bánh dày hình tròn, tượng trưng cho trời, còn bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, dùng để dâng cho vua cha trong ngày đầu xuân. Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc; là lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng, Bánh Giầy trong văn hóa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước.

Tết Nguyên Đán
Cảnh làm bánh chưng đón Tết. Cái Tết xum vầy, quây quần làm bánh chưng, canh nồi bánh chưng đêm nay dần hiếm thấy ở Việt Nam.

Bánh dày có kẹp thêm giò lụa.

Xông đất

Xông đất (hay đạp đất, mở hàng). Tục lệ xông đất đã có lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một “khai trương” một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng 5 đến 10 phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.Cách chọn tuổi xông đất:

  1. Tuổi Giáp hạp với Kỷ mà kỵ với Canh – Mậu.
  2. Tuổi Ất hạp với Canh mà kỵ với Tân – Kỷ.
  3. Tuổi Bính hạp với Tân mà kỵ với Nhâm – Canh.
  4. Tuổi Đinh hạp với Nhâm mà kỵ với Quý – Tân.
  5. Tuổi Mậu hạp với Quý mà kỵ với Giáp – Nhâm.
  6. Tuổi Kỷ hạp với Giáp mà kỵ với Ất – Quý.
  7. Tuổi Canh hạp với Ất mà kỵ với Bính – Giáp.
  8. Tuổi Tân hạp với Bính mà kỵ với Đinh – Ất.
  9. Tuổi Nhâm hạp với Đinh mà kỵ với Mậu – Bính.
  10. Tuổi Quý hạp với Mậu mà kỵ với Kỷ – Đinh.

Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước, người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới. Thời xưa, chỉ có hai cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuổi hợp tuổi với chủ nhà.

Xuất hành và hái lộc

Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần…
Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ.
Khác với miền Bắc,miền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc, người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi và có thể đoán được năm mới hên hay xui, chẳng hạn:
  • Gió Nam: chỉ đại hạn;
  • Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc;
  • Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả;
  • Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải;
  • Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu;
  • Gió Đông: chỉ có lụt lớn.

Chúc Tết

Sáng mồng Một Tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổị, bởi vậy ngày mồng Một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là tăng thêm một tuổi).

Thăm viếng họ hàng, hàng xóm, bạn bè và đồng nghiệp

  • Thăm viếng họ hàng là để gắn kết tình cảm gia đình họ hàng. Lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công… Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau tai qua nạn khỏi hay của đi thay người nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.
  • Đến thăm những người hàng xóm của mình – những gia đình sống gần với gia đình mình, chúc họ những câu tốt lành đầu năm mới. Những chuyến thăm hỏi này giúp gắn kết mọi người với nhau, xóa hết những khúc mắc của năm cũ, vui vẻ đón chào năm mới.
  • Đến thăm những người bạn bè, đồng nghiệp, những người thân thiết với mình để chúc họ những câu tốt lành, giúp tình cảm bạn bè gần gũi hơn.

Mừng tuổi

Lì xì (压岁钱, phát âm: ya sui qian): người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong “hồng bao” có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu.
Tết Nguyên Đán
Theo truyền thuyết ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.

Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là “Tiền mở hàng”. Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn), ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.

Câu đối Tết

Câu đối là một trong sáu thứ tiêu biểu nhất của ngày Tết theo phong tục cổ truyền của dân tộc: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.Ta vẫn thường thấy thỉnh thoảng có mấy nhà treo hai bức hoành đỏ chót trước cửa, dọc xuống hai câu chữ đối nhau. Ra đối đã khó, mà đối lại được còn khó hơn. Ngày xuân vui cái thanh tao, nhã nhặn của các câu chữ ấy đối với người xưa là một nét đẹp văn hóa không thể thiếu. Đặc biệt, ngày nay, trong những ngày đầu năm treo những dòng chữ, câu văn mà thi nhân gửi lời, gửi ý, gửi hoài vọng trong câu đối Tết cũng là một trong những món quà tinh thần được vật chất hóa để thể hiện ước vọng về một cuộc sống thuận hòa, khỏe mạnh, hạnh phúc…

Nhà thơ Tú Xương đã từng khai bút đầu năm:

“Nhập thế cục bất khả vô văn tự

Chẳng hay ho cũng húng hắng một vài bài

Huống thân danh đã đỗ tú tài

Ngày Tết đến cũng phải một vài câu đối”.

Có nhiều câu đối nay đã được lưu truyền, tán thưởng trong dân gian từ nhiều đời qua. Chẳng hạn như:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa/ Sáng mùng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà .

(Nguyễn Công Trứ).

Hoặc:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ đói/ Sáng mồng một, nới lỏng then tạo hóa, mở toác ra cho thiếu nữ rước xuân vào.

(Hồ Xuân Hương).

Câu đối Tết có nội dung mang ý nghĩa tốt đẹp và đôi khi nhắc nhở con người ta đến điều đạo đức, như: Mơ ước năm mới vui vẻ, hạnh phúc, làm ăn phát đạt và có nhiều bạn bè, ngày Tết người ta thường hay dán ở hai trụ cổng câu đối:

Môn đa khách đáo thiên tài đáo/ Gia hữu nhân lai vạn vật lai

(Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến/ Nhà có người vào lắm vật vào).

Còn trên hàng cột ở hiên nhà thì thường dán câu đối ca ngợi cảnh sắc mùa xuân và niềm vui năm mới:

Sơn thủy thanh cao xuân bất tận/ Thần tiên lạc thú cảnh trường xuân

(Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi/ Thần tiên vui thú cảnh đời đời).

Câu đối dán, treo trong nhà mang nội dung thiết thực, gần gũi hơn (dù vẫn thể hiện ước vọng chung). Có thể là câu đối cầu thọ, cầu phúc:

Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ/ Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

(Trời thêm năm tháng, người thêm thọ/ Xuân đầy đất trời, phúc đầy nhà).

Hoặc câu đối cầu đức:

Phúc mãn đường, niên tăng phú quí/ Đức lưu quang, nhật tiến vinh hoa

(Phúc đầy nhà năm thêm giàu có/Đức ngập tràn ngày một vinh hoa).

Ngày xuân, ngẫm đôi điều về cái Tết, lại mong ước sao cho những giá trị văn hóa ấy mãi ghi sâu trong tâm khảm những thế hệ sau. Tết về, thấy gió chợt reo, mai vàng khoe sắc, bỗng dưng nhớ đến mấy câu thơ của Đoàn Văn Cừ trong Tết Quê Bà:

…Xuân về hoa cải nở vàng hoe.

Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng,

Cả đêm cuối chạp nướng than hồng.

Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn,

Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông.

 

Zen Nguyễn
Theo Zen Nguyễn Blog