Trào lưu ‘đắng lòng’ – do ai?

Dạo gần đây, trong các câu chuyện từ nghiêm trọng đến bông phèng, cứ thấy người trẻ thích chua vô từ “đắng lòng”. Trên mạng xã hội cũng thế, “đắng lòng” được dùng nhiều tới mức các báo mạng nói rằng, đây là từ khóa “gây bão” hay “trào lưu đắng lòng”…

Theo PGS TS Phạm Văn Tình – chuyên gia ngôn ngữ thuộc Viện Từ điển học và Bách khoa Việt Nam – trong một bài phỏng vấn còn lưu trên trang news.go.vn, thì: “Việc dùng từ này giống như một số từ mà giới trẻ hay và đã từng sử dụng”.

Từ “đắng lòng” phản ánh một tâm trạng, một cách ứng xử mới của giới trẻ trong bối cảnh hiện nay. Từ “đắng” trong tiếng Việt đã được định hình về ngữ nghĩa ai cũng biết, đắng là một vị. Vị đắng ở trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa là nó có một cảm giác khó chịu, giống như ăn phải bồ hòn hay mật cá, đem lại cảm giác không thiện cảm. Từ đó mà trong cuộc sống người ta dùng cụm từ này để ví von về tâm trạng không được vui, có cảm giác đau khổ, khó chịu.

Cụm từ này đang nằm trong xu hướng lạ hóa từ ngữ của giới trẻ. Tuy nhiên, dường như nó đang được dùng để diễn tả mọi tâm trạng. Thường thì những từ được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần mới gây được ấn tượng, chứ nếu nói qua một lần thì chắc sẽ không đọng lại trong trí nhớ. Giới trẻ lại thích sự khác biệt, chơi trội gây ấn tượng, và muốn khác đời, khác người. Và cái khác biệt ấy có thể biểu hiện qua ăn mặc, cử chỉ nhưng cũng có thể qua lời nói.

Hiện, cụm từ “đắng lòng” đang có chiều hướng bị sử dụng với cái nghĩa hơi lệch đi và đang được sử dụng với tần số tương đối nhiều. Cụm từ này thể hiện một tâm trạng, một cách nói về một sự kiện, câu chuyện nào đó. Cũng có thể hiểu theo nghĩa chán chường, đôi khi để bày tỏ một mong muốn không hề cay đắng gì cả. Giới trẻ đang đa dạng hóa nghĩa của cụm từ “đắng lòng”, không chỉ hoàn toàn có nghĩa tiêu cực nữa mà còn có thể dùng để gây ấn tượng, sự chú ý cho câu nói.

Trong Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào, Phan Xuân Thành, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Bản in năm 2011 – Tái bản lần thứ 12, có sửa chữa và bổ sung, NXB Đại học Quốc gia TPHCM), ở mục từ “Đắng” (tính từ), được định nghĩa: 1/ Có vị khó chịu như của bồ hòn, mật cá: thuốc đắng, đắng như bồ hòn. 2/ Có cảm giác đau đớn về tinh thần: đắng lòng, chết đắng trong lòng.

Chịu khó truy tầm, thì từ “đắng lòng” cũng đã từng xuất hiện trong thơ của Chế Lan Viên: “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc / Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”.

Có trong từ điển, từng đi vào bài thơ nằm trong chương trình sách giáo khoa phổ thông từ rất lâu, nhưng vấn đề đặt ra ở đây là vì sao từ “đắng lòng” lại trở nên thông dụng, thành một lối nói, thậm chí là một mốt dùng từ trong giới trẻ trong thời điểm này?

Trước hết, bởi đây là một từ được báo chí trong nước lạm dụng để giật tít quá nhiều trong thời gian gần đây.

Thử vào Google, làm động tác tìm từ khóa, có thể thấy “đắng lòng” được các báo mạng đưa vào tít rất nhiều, từ tin giật gân đến các cập nhật về diễn biến trên biển Đông, từ chuyện bạo hành gia đình cho đến sự kiện các danh thủ và đội bóng lớn thua cuộc, phải từ bỏ giải đấu… Tất cả đều nằm trong công thức cảm xúc “đắng lòng”.

Thậm chí có người còn bỏ công khảo sát xem báo nào dùng từ này nhiều nhất, vẽ thành biểu đồ hẳn hoi (độ chính xác của biểu đồ này lại là chuyện khác).

Dễ nhận thấy, sau hiện tượng lạm dụng từ “đắng lòng” một cách vô tội vạ, báo chí đang có xu hướng công khai cảm xúc ủy mị, sướt mướt thái quá (mà ta vẫn thường gọi là sến) để ra sức lôi kéo xúc cảm của đại chúng (hoặc nghĩ rằng như thế sẽ tạo ra sự đồng cảm của đại chúng).

Mà đâu chỉ có tính từ “đắng lòng”, từ khi vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vào hạ đặt trong vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam, thì một kho tính từ có cấu trúc tương tự đã được huy động như “thắt tim” (Thắt tim với MV thầy trò tiểu học hát “Nơi đảo xa”, Nhiều bạn đọc đã thắt tim trước lằn ranh sinh tử của 16 ngư dân trên tàu đánh cá QNg 96084 của Lý Sơn…), “nhói tim” (Nhìn tàu Trung Quốc tôi thấy nhói trong tim)…

Từ việc tô đậm những tính từ cảm giác các nhân vật, kể cả người viết báo với mong muốn chạm vào, lay động cảm xúc cộng đồng trong những vấn đề hệ trọng nan giải mà nhóm từ trên được huy động trên các mặt báo, chúng vô tình trở nên phản cảm và trở thành chất liệu của một trò chơi ngôn ngữ khó lường của đại chúng. Một đại chúng trong tình thế đã quá chán ngán, đang chờ đợi những thông điệp lý trí, sắc sảo và mạnh mẽ hơn trong bức tranh đại tự sự.

Thế là, “đắng lòng”, đã mang một trường nghĩa khác, trở thành một thứ tu từ, một dụng ý trào lộng trong cách nói. Cách mà đa số người trẻ sử dụng từ “đắng lòng” trên các status hay trong đối thoại đời thường bây giờ thường bày tỏ sự buồn cười, tếu táo hay phê phán trong những ngữ cảnh chẳng mảy may liên quan gì tới nghĩa gốc (chẳng có chút “đắng lòng”nào ở đó cả!).

Cuối cùng, cách nói tếu táo của người trẻ qua những trò chơi ngôn ngữ này còn là một phản hồi, phê phán nhẹ nhàng và đầy tinh tế đối với các diễn ngôn chính thống nặng sắc thái cảm tính đang thừa thãi trên truyền thông và trong đời sống.

Trong trường hợp này, người nói lẫn người nghe ngầm thiết lập một khế ước đối thoại để hiểu hàm ý ngầm ẩn trong văn cảnh. Họ biết rằng, hài hước trong trò chơi ngôn ngữ cũng là một cách thế để vừa tự trào, thay vì chết chìm trong sự bùng nhùng của ủy mị và sướt mướt không tìm thấy lối thoát.

Nguyễn Vĩnh Nguyên – Saigontime