Như thế nào là ‘copy left’ ?

Vấn đề bản quyền thời thông tin toàn cầu ngày càng phức tạp. Mỗi năm, có nhiều vụ kiện liên quan bản quyền xảy ra khắp thế giới, từ vụ hậu duệ nhà văn Margaret Mitchell kiện Alice Randall – tác giả quyển The Wind Done Gone (nhái theo Gone With The Wind), đến vụ Celera Genomics kiện các trường hợp vi phạm bản quyền về công trình giải mã bộ gien người.

Cách đây không lâu, ngay cả hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ cũng bị kiện vụ cấm sử dụng băng-đĩa hình cung cấp cho ban giám khảo Oscar. Tính phức tạp vấn đề còn ở chỗ, song song nhiều biện pháp bảo vệ bản quyền (copy right), bắt đầu xuất hiện xu hướng ‘copy left’…

Lập luận của “copy left”

Đầu tiên, thử khảo sát luật bản quyền tại Mỹ. Năm 1790, luật Bảo vệ bản quyền chỉ có giá trị trong 14 năm và sau thời gian này, người muốn được bảo vệ bản quyền phải đăng ký lại (và chỉ được thực hiện một lần). Từ 1831 đến 1909, thời gian bảo vệ bản quyền tăng từ 28 năm lên 56 năm. Hiện tại, thời hạn bảo vệ bản quyền cho cá nhân là 70 năm sau khi tác giả từ trần; với công nghiệp, thời hạn bảo vệ bản quyền kéo dài 95 năm sau khi công trình được công bố. Tuy nhiên, ba thập niên qua, số trường hợp tái đăng ký bảo vệ bản quyền ngày càng giảm. Một trong những phức tạp liên quan bảo vệ bản quyền là định nghĩa bản quyền.

Trước đạo luật Bản quyền 1909, bản quyền được hiểu là sự độc quyền “công bố” công trình. Sau đó, khi đạo luật Bản quyền 1909 ra đời, khái niệm bản quyền có thay đổi chút ít, trong đó nhấn mạnh việc ngăn cấm ‘sao chép’ sáng tạo người khác. Năm 1976, một điều khoản bổ sung được thêm vào, yêu cầu việc đăng ký chính thức hoặc tái đăng ký để phù hợp luật bản quyền quốc tế. Năm 1998, Đạo luật bản quyền thiên niên kỷ kỹ thuật số (Digital Millennium Copyright Act – DMCA) ra đời, nhằm bảo vệ bản quyền thời thông tin kỹ thuật số.

Tuy nhiên, tính nan giải lại đồng thời xuất hiện, khi ngày càng có nhiều người cho rằng DMCA đã ngăn cản sự tiếp cận thông tin. Phong trào phản đối DMCA hình thành từ giới luật sư, học giả và hoạt động xã hội. Họ cho rằng luật bảo vệ bản quyền “nhân danh chống đánh cắp bản quyền” sẽ đem lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho phát triển xã hội. Lawrence Lessig – giáo sư đại học Luật Stanford – gọi hoạt động nhóm mình là “phong trào tự do văn hoá”, trong khuôn khổ khái niệm “copy left” (thuật từ nguyên thuỷ được sử dụng trong giới thảo chương vi tính để chỉ các sản phẩm ít mang tính bảo vệ bản quyền). Một cách tổng quát, các nhóm “copy left” cho rằng nước Mỹ ngày càng ít tự do và kém sáng tạo; và trong khi hệ thống luật bản quyền Mỹ được thiết kế nhằm khuyến khích sáng tạo thì bây giờ luật bản quyền đang bóp chết tư duy mới – theo Jonathan Zittrain, người đồng sáng lập trung tâm Berkman về nghiên cứu Internet và xã hội thuộc đại học Luật Harvard, cái nôi của xu hướng “copy left”.

Cụ thể, phong trào “copy left” cho rằng luật bảo vệ bản quyền cho phép các cá nhân sự độc quyền khai thác, kinh doanh, thu lợi…, từ sản phẩm sáng tạo của mình nhưng điều này chỉ nên kéo dài trong thời gian ngắn, có giới hạn nhất định – nhằm tạo động lực thúc đẩy khả năng sáng tạo của chính anh ta cùng lúc tạo điều kiện cho các thế hệ sau nghiên cứu ý tưởng của bậc đàn anh một cách tự do. Vay mượn và hợp tác là yếu tố cơ bản cần thiết cho tất cả hoạt động sáng tạo. Điều này từng tồn tại trong suốt chiều dài văn minh nhân loại. Chẳng ai tạo ra kiệt tác từ không khí và chẳng ai có thể viết được điều gì từ sự không có – lập luận của Yochai Benkler, giáo sư đại học Luật Yale.

“Tất cả chúng ta đều nhìn thế giới như vốn có của nó, sử dụng và tái dựng nó”. Sự cho phép sử dụng ý tưởng trong khái niệm phổ thông trong văn hoá là cần thiết cho phát triển văn hoá cũng như xã hội – theo James Boyle, giáo sư đại học Luật Duke. Để chứng minh, các nhóm “copy left” đã dẫn chứng nhiều trường hợp, chẳng hạn việc bán bản quyền sách điện tử cho một người duy nhất. Người mua này không thể sao chép, in ấn hoặc gửi (qua Internet) cho bất kỳ ai khác; bởi khi mua, anh ta đã được cung cấp password để tải quyển sách về máy mình và chỉ máy anh ta mới có thể đọc được tác phẩm trên. Tương tự, bạn có thể tải về máy mình các file nhạc nén MP3 nhưng không thể chép vào CD hoặc chuyển file đó sang máy tính khác (ở đây không đề cập đến khả năng có thể phá bộ mã nguồn để thực hiện thao tác trên mà tin tặc có thể thực hiện dễ dàng).

Giáo sư Lawrence Lessig – người cầm cờ của phong trào copy left

Tính khả thi của “copy left”?

Phong trào “copy left” còn dẫn chứng lại từ Tổng thống Mỹ thứ ba Thomas Jefferson, người từng cho rằng luật Bảo vệ bản quyền nghiêm nhặt có nhiều hạn chế nên được gỡ bỏ. Thomas Jefferson ủng hộ việc công bố quyền sở hữu trí tuệ và tôn vinh cá nhân sáng tạo nhưng đồng thời khuyến khích việc để ý tưởng sáng tạo trôi tự do trong dòng chảy thiên nhiên. Quan điểm luật bản quyền của Thomas Jefferson đã thể hiện trong Điều 1, Khoản 8, Hiến pháp Hoa Kỳ, trong đó cho phép Quốc hội quyền “khuyến khích sự phát triển khoa học và nghệ thuật hữu dụng, bằng cách đảm bảo cho các tác giả và nhà phát minh sự độc quyền về tác phẩm hoặc khám phá đáng tôn vinh của họ trong thời gian hạn chế”.

Lawrence Lessig là một trong những người cổ xuý việc trở lại quan điểm nền tảng của Thomas Jefferson. Tháng 10.2002, Lawrence Lessig đã xuất hiện trước Tối cao pháp viện Hoa Kỳ để tranh luận về Đạo luật mở rộng thời hạn bản quyền và nói rằng đạo luật trên vi hiến. Tuy nhiên, toà cho rằng dù có thể “không tốt đẹp” nhưng việc cho phép kéo dài thời gian bảo vệ bản quyền là hoàn toàn nằm trong khuôn khổ quyền lực Quốc hội. Đây là một trong những thất bại của phong trào “copy left”. Trước đó, năm 2001, Lawrence Lessig cùng một nhóm xã hội đã thành lập tổ chức Creative Commons.

Ngoài việc tuyên truyền “copy left”, Creative Commons còn soạn phần mềm cho phép người giữ bản quyền có thể tình nguyện cung cấp rộng rãi tác phẩm – sản phẩm mình cho công chúng. Theo New York Times, Creative Commons hiện hoạt động tại 10 quốc gia, trong đó có Brazil, nơi bộ trưởng Văn hoá Gilberto Gil (vốn là nhạc sĩ) có kế hoạch cung cấp vài ca khúc của ông thông qua Creative Commons. Cách đây không lâu, Creative Commons cũng thương lượng với siêu thị thương mại trực tuyến việc cung cấp các ấn bản sách hiếm. Cuối cùng, “copy left” cho rằng Internet là đòn bẩy kích thích giao lưu văn hoá – quan niệm gần như hoàn toàn tương phản với sự bảo vệ chặt chẽ bản quyền văn hoá của “bọn cá mập tham ăn” trong giới công nghiệp giải trí. Phong trào “copy left” cũng cổ suý một số mô hình đáng khen ngợi chẳng hạn phần mềm Linux hoặc trang web tìm kiếm Google. Xin nhấn mạnh, vấn đề mà phong trào “copy left” đề cập hoàn toàn không dính dáng sự đánh cắp bản quyền, tức chôm chỉa ý tưởng – sản phẩm người khác và tự nhận đó là của mình.

Dù thế nào, “copy left” cũng đã và đang đối diện sự chỉ trích từ “copy right” và tương lai “copy left” vẫn là câu hỏi mở.

Cao Trí – Nguoidothi